CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

Trong truyền thống Việt Nam, tiếp nối Trung Quốc, trà chiếm một vị trí đặc biệt.

Trong truyền thống Việt Nam, tiếp nối Trung Quốc, trà chiếm một vị trí đặc biệt.

nguoi viet uong tra 300x342 TRÀ biểu tượng của Văn hóa giao tiếp Phương Đông

Giới quý tộc thời phong kiến Việt Nam thưởng thức trà.

Ở Việt Nam, sự ham mê trà đã kích thích sự sản xuất các phương tiện khác nhau cho việc pha trà và uống trà. Nhà văn Phạm Đình Hổ(1768-1839) cùng thời với Philíp Bỉnh, trong Vũ trung tùy bút viết về Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XVIII có kể: “Trong nước vô sự, các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một cái ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người qua chơi hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục khác để mua chuốc lấy chè ngon”.

Có thể nói về văn hóa độc đáo của việc uống trà (nếu như không nói về sự sùng bái): “Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ trên mua cho được chè ngon – Phạm Đình Hổ nhận xét – thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn để mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tầu buôn để đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú vị uống chè Tàu có phải ở chỗ đó đâu. Chè Tàu thú vị ở chỗ tinh nó sạch sẽ, cái hương của nó thơm tho”.

Rõ ràng rằng, trà tạo nên mối quan hệ, tạo nên đối thoại – đối thoại với người khác, với chiều sâu nội tâm, trò truyện với chính mình. Uống trà liên kết những người đàm đạo trong không gian và thời gian. Trà, đó là sự giao tiếp giữa các nền văn hóa.

Ở Việt Nam hiện nay, đãi khách nhất thiết phải có trà. Họ rót một chút trà vào trong các chén nhỏ bằng sành hay bằng sứ, thoạt đầu tôi cứ ngỡ như búp bê. Phạm Đình Hổ, viết về truyền thống uống trà, bắt nguồn từ Trung Quốc, thật thú vị: “Từ đời Khang Hi (1668-1723) trở về sau, cách uống chè Tàu mới đổi ra cách pha từng chén nhỏ chứ không hãm từng ấm to nữa, vì cách uống chè ấm phải cốt cho nhỏ và mỏng để khi pha chè mới nổi hương vị”.

Tuy nhiên, đó là cách pha trà trong ấm nhỏ hoặc ấm to, được ủ nóng trong cái dành bằng bông, lót bên trong một cái giỏ đặc biệt. Ấm trà bằng gốm được tạo nên bởi bàn tay của các nghệ nhân khéo léo thành thạo và nổi tiếng thường có giá cao.

Bộ ấm chén đẹp, lời nói thong thả, lịch thiệp, động tác tao nhã, uống chầm chậm từng ngụm nhỏ, chủ và khách như đang thực hiện một nghi lễ nào đó, tâm hồn thư thái. Người uống trà, dường như đang xa lánh thế giới trần tục, giao cảm với thế giới vĩnh hằng, lãng quên những mối lo âu và xáo trộn, hướng tới những giá trị tuyệt đối. Phạm Đình Hổ viết: “Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè Tàu ra thưởng thức thì có thể tính được mộng trần, rửa được lòng tục, ấy người xưa ưa chuộng chè Tàu là vì vậy”.

Trà làm khoẻ người, giải cơn khát, nhưng không phải chỉ có thể – nó tạo nên không khí giao tiếp, trong cách uống trà Việt Nam, có chất thẩm mỹ riêng và yếu tố nghi lễ. Vì vậy, sắp xếp vị trí uống trà, điều kiện uống trà là yêu cầu rất đặc biệt. Phạm Đình Hổ viết tiếp: “Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chè ở cửa chợ bụi lầm trong lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm có đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế thì có thú vị không?”.

Như vậy, truyền thống uống trà Việt Nam còn phải tính đến sự hòa hợp với tâm trạng, trạng thái tinh thần ổn định. Ngoài việc uống trà, còn là sự giao tiếp, sự hòa hợp với thiên nhiên. Trong quán ăn giữa chợ, bay lên mùi thơm dễ chịu từ những bát phở gà nóng hổi với sợi phở dài trong suốt được rắc nhiều hạt tiêu với những cọng rau thơm và những cọng hành dài. Người ta gọi đó là quán ăn “bụi”. Nhưng để uống trà, lại cần phải tách biệt, tốt hơn hết là giữa thiên nhiên, tránh xa những mối bận bịu, ồn ào. Phạm Đình Hổ kể rằng: “Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh dạo chơi gần chùa Vân, pha chè uống nước, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía Tây xóm ấy, rồi múc nước suối để pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng kêu lượn, cùng lá cỏ cây rơi rụng, hành khách lại qua, ta thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh”.

Trả lời