CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

NƯỚC UỐNG YÊU THÍCH_BIẾN TẤU VỚI TRÀ XANH

Thức uống từ trà là loại nước uống có rất nhiều công dụng như giảm cân, tăng cường độ đàn hồi của tim, chống lão hóa, khiến da trẻ đẹp,.. Vậy để giúp bạn sử dụng trà có hiệu quả hơn, hãy tìm hiểu các loại thức uống sau đây.

1.     Trà xanh nguyên vị.

 

Bột trà xanh
Bột trà xanh

Để thưởng thức món trà xanh nguyên vị này, bạn chỉ cần khoảng ½ muỗng bột trà xanh cùng 4 ly nước nóng. Cho bột trà vào bình sứ cùng một chút nước sôi khuấy nhẹ, sau đó cho nước vào từ từ để trà xanh tan hoàn toàn, lọc trà qua rây, rót trà và thưởng thức.

2.     Trà xanh sữa nóng.

TRÀ XANH SỮA NÓNG
TRÀ XANH SỮA NÓNG

Nguyên liệu: 300ml nước cốt trà xanh, 200ml sữa tươi, 2 muỗng cà phê đường, 1g bột trà xanh.

Cách làm: Đun nóng sữa, cho đường vào hòa tan, thêm nước cốt trà xanh và khuấy đều. Rót sữa ra ly, thêm chút bột trà xanh lên mặt cho đẹp.

3.     Sô-đa trà xanh

sodaa trà xanh

Nguyên liệu: 30ml nước cốt trà xanh, 150ml nước sô-đa, 30ml nước đường, 1/3 quả chanh, đá viên.

Cách làm: Cho đá viên, nước đường, nước sô-đa, vắt nước cốt chanh vào và lắc nhẹ cho lạnh, rót ra ly. Cho nước cốt trà xanh vào và thưởng thức.

4.     Trà xanh, kem vani

TRÀ XANH KEM VANI
TRÀ XANH KEM VANI

 

Nguyên liệu: 1 viên kem vani, 150ml nước cốt trà xanh, 100ml sữa tươi, 20ml nước đường, đá viên, bột trà xanh.

Cách làm: cho sữa tươi, nước đường, đá viên và nước cốt trà xanh vào bình lắc, lắc cho thật lạnh. Rót ra ly, cho viên kem lên và rắc ít bột trà xanh lên trên.

 

CategoriesCâu hỏi về Trà

CÁCH PHÂN BIỆT MỘT SỐ LOẠI TRÀ

Trà là thức uống của đại đa số người dân Việt Nam, chính vì thế hầu hết 3 miền Bắc Trung Nam nơi nào cũng có sự hiện diện của  trà. Chính vì lí do đó đã tạo nên sự phong phú cũng như đa dạng cho trà. Với mỗi vùng miền trà lại được chia ra nhiều loại khác nhau, nhiều công dụng khác nhau. Dưới đây là cách phân biệt một số loại trà hay dùng.

nguon goc1 (13)

Trà nụ: nụ còn non được ví như nụ hạt tiêu, được hái trong khoảng tháng 9-10 dương lịch. Nếu phơi trong nắng sẽ nhanh khô nhưng nụ sẽ chuyển màu đỏ kém chất lượng. Vì thế hầu hết trà nụ được phơi trong bóng râm để cho ra màu xanh bắt mắt. Trong trà nụ lượng cafein chỉ chiếm khoảng 2%, ít kích thích nên rất được  sự tin dùng của người già và phụ nữ.

Trà tươi: là bao gồm các lá trà non và già, còn xanh tươi, đưuọc hái vềkhông qua chế biến. Rửa sạch, vò trà bằng tay cho vào ấm cùng nước đun sôi, ủ khoảng 5 phút và chắt ra uống. Nước trà có màu xanh tươi lục diệp.

Trà Bạng: Chủ yếu là các lá trà già được giã nát hoặc băm nhỏ thành đoạn ngắn 2mm- 1cm, trà có màu xanh đen và hơi đỏ. So với các loại trà khác, trà Bạng có tỷ lệ lớn nhất về chát béo: 7.14%, tanin 5,25%, tro tổng số 4.3%, tro hòa tan 1.4%, đạm 1.25%.  Cũng như chè tươi lá chè Bạng không chế biến chỉ sấy nhẹ qua không có lông tuyết.

Trà Mạn: là giống trà truyền thống của vùng chè cổ miền núi phía Bắc, nguyên liệu non, 1 tôm 2,3 lá non, thường giống với trà Shan tuyết, có cuống dài và được chế biến hoàn toàn thủ công.

Trà ông long
Trà ông long

Trà ô long: là thành phẩm của quá trình: trà nguyên liệu -> làm héo và lên men kết hợp -> sao và vò kết hợp sấy khô -> bán thành phẩm. Nước trà màu vàng kim óng ánh, vị đậm mạnh, hương thơm đặc biệt.

Trà hương: loại trà được ướp bởi các loại hoa khô như hoa ngâu, hoa sói, hoa nhài, hoa sen,..với các cách ướp, công đoạn khác nhau. Khi uống trà mang hương thơm của nguyên liệu ướp rất thơm và ngon.

Trà hòa tan: ở dạng bột, tơi xốp và rất mịn. Thường có màu vàng nhạt (trà xanh) và màu nâu nhạt (trà đen). Tuy nhiên vì quá trình chế biến công phu và nhiều giai đoạn chiết xuất, cô đặc và sấy, nên trà thường có hương nhạt so với các trà khác.

Trà dược thảo: sản phẩm của sự kết hợp giữa trà đen và một loại dược liệu khác như cỏ ngọt, vừa có vị trà lại vừa có tác dụng chữa bệnh.

CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

THƠ VỀ CÂY CHÈ

Picture2

VƯỜN XƯA

Tác giả: Lê Viết Tư

Anh về tưới lại vườn chanh,

Trồng thêm mấy gốc chè xanh trước nhà.

Trồng chè để nhớ khách xa,

Ngày thường nấu uống thay trà tốt hơn.

Thịt gà với lá chanh non,

Chè xanh với bát sành con mát lòng.

Quê nghèo sản vật đâu mong,

Đơn sơ bát nước đục trong ao nhà.

Nhắn giùm nói với người ta,

Về quê nhớ ghé qua nhà tí thôi.

Vườn chanh hoa trắng tinh khôi,

Chè xanh búp nõn lâu rồi hái phơi.

Hương chanh thơm ngát đợi mời,

Ai về nếu có thảnh thơi ghé vườn.

Có chè hái sẵn pha sương,

Có chanh pha với lời thương ngọt ngào.

 1tra3

 

CHÈ XANH XỨ THÁI

Tác giả: Đào Thái Phương

Ngẩn ngơ nhìn đồi chè xanh,

Kết tinh trời đấttrong lành sớm mai.

Ô kìa nhìn ngắm tay ai

Nâng niu từng búp miệt mài sớm hôm.

Chén trà xanh vị hương thơm,

Hương trà xanh quện như ôm đất trời.

Nâng niu từng giọt mồ hôi,

Đậm hương chè Thái cho đời ngợi khen.

Anh lên chợ Thái cùng em,

Để anh buôn ấm ngồi bên chén trà.

Yêu nhau chẳng ngại đường xa,

Nghĩa tình trọn vẹn đậm đà Thái Nguyên.

 

CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

TẢN MẠN CHÉN TRÀ

Bạn thấy gì khi nhìn vào chén trà hay uống? Có chăng đó chỉ là một màu xanh hấp dẫn, một mùi hương thoảng nhẹ lôi cuốn người dùng.

Thế nhưng bạn không biết rằng, tất cả những gì xấu xí, vẫn đục nhất đều lắng xuống phía dưới. Chỉ khi uống gần cạn ta mới nhận ra, ấy chăng cũng như cuộc sống hằng ngày vậy. Bạn chẳng nhìn thấy trước cũng chẳng đoán được điều gì về tương lai cả.

tan man voi tra

Có người bảo rằng, tình bạn giống như chén trà ấy. Nếu là người dưng, người chẳng cần biết bạn thế nào sẽ vội vàng hất chén trà từ tay bạn đi. Ấy vậy, cũng sẽ có người ngồi cùng bạn để thử để cảm nhận cái vị đắng của trà. Cũng như cùng bạn vượt qua mọi thứ trong cuộc sống.

Chén trà cũng như lòng người, người đi trà lạnh mà tình cũng dứt. Trà nguội ắt sẽ không còn ngon, không còn hứng thú nữa. Cuộc sống này nếu cho ta gặp đúng người, đúng thời điểm ắt hẳn chén trà lúc đó sẽ ngon biết mấy. Thế nhưng đánh mất rồi, cũng như không có duyên thì dù trà ngon nhưng đã nguội thì vận vô vị, chỉ là chén trà đổ đi mà thôi.

Bạn thường chọn gì giữa cà phê, rượu và trà làm thức uống yêu thích cho mình giữa bộn bề cuộc sống này?

 

tra va ca phe

Là rượu, lựa chọn của những nỗi đau? Là những ly cà phê cho những nỗi sầu mình bạn? Là trà, nước uống mãi mãi vô ưu? Người xưa vẫn bảo uống trà phải có bạn hiền mới vui. Với cà phê là khoảng thời gian cho những lúc muốn chui vào một góc, cho những lúc buồn thèm một mình. Thì chén trà cho những lúc tâm hồn thư thả, thoải mái và bình yên nhất, uống chén trà như để quên, để buông bỏ, để tĩnh lặng mà an nhiên với đời.

Chén trà ấy như phản ánh hiện thực cuộc sống, người quá nhiều hận thù, bon chen chắc gì đã hiểu và cảm nhận được vị đắng ngay đầu lưỡi rồi ngọt dần ở cổ của trà. Chỉ những người yêu trà, tâm huyết với trà mới cảm nhận được sự an nhiên, thư thái khi ngồi bên chén trà.

Trong cuộc sống mọi thứ cũng giống như chén trà, những thứ đẹp đẽ màu hồng thường nổi lên trên che lấp những cái xấu xa, vẫn đục dưới đáy. Trà ngon tất sẽ không gãy vụn, cánh trà nở xòe rất đẹp, cho màu nước óng vàng hấp dẫn. Cũng giống trà ngon, người tốt thì luôn rộng mở tấm lòng, đầy tình yêu thương. Không giống như loại trà vụn, trà dính nhiều hỗn tạp thì dù pha bằng thứ nước đọng trên lá sen hay sương đêm trong ấm ngọc chén ngà thì vẫn chỉ là thứ trà đục đắng mà thôi.

Nhưng bạn biết không dẫu trà vụn hay xấu như thế nào cũng vẫn được đóng vỏ hồng, in họa tiết, gắn mác hảo hạng và bán có giá trị. Còn người nếu để tâm hồn rách nát, cuộc sống bon chen vẩn đục thì dù cuộc đời thế nào cũng chẳng chắp vá nổi đâu.

 

CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

TRÀ THÁI NGUYÊN_TUYỆT PHẨM CỦA CUỘC SỐNG

Nhắc đến trà Thái Nguyên chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết, cũng từng nghe qua hoặc là tín đồ “ruột” của trà Thái Nguyên. Thế nhưng có lẽ chúng ta chưa hiểu hoặc chưa biết hết về loại trà được mệnh danh ngon nhất nhì Việt Nam này.

Trà Thái Nguyên
Trà Thái Nguyên

Vậy trà Thái Nguyên có gì hấp dẫn và lôi cuốn?

Trà Thái Nguyên được chế biến và tạo nên từ những búp trà xanh non từ vùng Tân Cương Thái Nguyên. Vùng đất với diện tích đất đồi chiếm 31,4% diện tích tổng thể, là một điều kiện thuận lợi cho việc trồng trà. Đặc biệt hơn vùng đất này với khí hậu ôn hòa quanh năm, tất cả đã bồi đắp, nuôi dưỡng nên những búp chè với hương vị đặc biệt không nơi nào sánh bằng.

Thành phẩm trà Thái Nguyên được đưa ra thị trường là những búp chè được chọn lọc kỹ càng, đạt chất lượng hoàn hảo nhất. Với búp chè màu mốc cau, pha cho nước có màu cốm non. Cái màu nước trong xanh, cái vị chát dịu nhẹ và hậu ngọt cực sâu sẽ khiến bạn “yêu” ngay từ lần đầu. Khi pha trà, hương cốm non sẽ phản phất nhẹ nhàng khiến bạn cảm thấy thư giãn và thoải mái.

Thưởng thức trà cũng như ngắm hoa, bạn phải từ từ cảm nhận để thấy rằng sau cái sần xù xấu xí là vẻ đẹp mong manh mà sắc sảo. Cũng như sau vị đắng chát của trà là các dịu ngọt nơi đầu lưỡi kéo xuống cổ và day dứt mãi không thôi.

 

trà

Uống một ngụm trà như uống cả núi sông, cả vùng đất đầy nắng gió và đầy tình người. Có lẽ vì thế đôi khi bạn sẽ cảm thấy trà có vị mằn mặn, ấy là vị của mồ hôi, của những người tâm huyết với cây chè.

Trà Thái Nguyên với quy trình sản xuất khép kín, các công đoạn cầu kỳ, tự động hóa nhưng vẫn giữ nguyên vẹn cái hương vị lôi cuốn của trà, lưu giữ vị của linh hồn trà Tân Cương Thái Nguyên.

Liệu những điều trên đã đủ để bạn tin và chọn lựa trà Thái Nguyên làm bạn đồng hành trong cuộc sống chưa ạ?

Hãy đến với trà Thái Nguyên để lựa chọn cho riêng mình loại trà yêu thích và cảm nhận bạn nhé!

CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

Trong truyền thống Việt Nam, tiếp nối Trung Quốc, trà chiếm một vị trí đặc biệt.

Trong truyền thống Việt Nam, tiếp nối Trung Quốc, trà chiếm một vị trí đặc biệt.

nguoi viet uong tra 300x342 TRÀ biểu tượng của Văn hóa giao tiếp Phương Đông

Giới quý tộc thời phong kiến Việt Nam thưởng thức trà.

Ở Việt Nam, sự ham mê trà đã kích thích sự sản xuất các phương tiện khác nhau cho việc pha trà và uống trà. Nhà văn Phạm Đình Hổ(1768-1839) cùng thời với Philíp Bỉnh, trong Vũ trung tùy bút viết về Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XVIII có kể: “Trong nước vô sự, các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một cái ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người qua chơi hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục khác để mua chuốc lấy chè ngon”.

Có thể nói về văn hóa độc đáo của việc uống trà (nếu như không nói về sự sùng bái): “Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ trên mua cho được chè ngon – Phạm Đình Hổ nhận xét – thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn để mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tầu buôn để đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú vị uống chè Tàu có phải ở chỗ đó đâu. Chè Tàu thú vị ở chỗ tinh nó sạch sẽ, cái hương của nó thơm tho”.

Rõ ràng rằng, trà tạo nên mối quan hệ, tạo nên đối thoại – đối thoại với người khác, với chiều sâu nội tâm, trò truyện với chính mình. Uống trà liên kết những người đàm đạo trong không gian và thời gian. Trà, đó là sự giao tiếp giữa các nền văn hóa.

Ở Việt Nam hiện nay, đãi khách nhất thiết phải có trà. Họ rót một chút trà vào trong các chén nhỏ bằng sành hay bằng sứ, thoạt đầu tôi cứ ngỡ như búp bê. Phạm Đình Hổ, viết về truyền thống uống trà, bắt nguồn từ Trung Quốc, thật thú vị: “Từ đời Khang Hi (1668-1723) trở về sau, cách uống chè Tàu mới đổi ra cách pha từng chén nhỏ chứ không hãm từng ấm to nữa, vì cách uống chè ấm phải cốt cho nhỏ và mỏng để khi pha chè mới nổi hương vị”.

Tuy nhiên, đó là cách pha trà trong ấm nhỏ hoặc ấm to, được ủ nóng trong cái dành bằng bông, lót bên trong một cái giỏ đặc biệt. Ấm trà bằng gốm được tạo nên bởi bàn tay của các nghệ nhân khéo léo thành thạo và nổi tiếng thường có giá cao.

Bộ ấm chén đẹp, lời nói thong thả, lịch thiệp, động tác tao nhã, uống chầm chậm từng ngụm nhỏ, chủ và khách như đang thực hiện một nghi lễ nào đó, tâm hồn thư thái. Người uống trà, dường như đang xa lánh thế giới trần tục, giao cảm với thế giới vĩnh hằng, lãng quên những mối lo âu và xáo trộn, hướng tới những giá trị tuyệt đối. Phạm Đình Hổ viết: “Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè Tàu ra thưởng thức thì có thể tính được mộng trần, rửa được lòng tục, ấy người xưa ưa chuộng chè Tàu là vì vậy”.

Trà làm khoẻ người, giải cơn khát, nhưng không phải chỉ có thể – nó tạo nên không khí giao tiếp, trong cách uống trà Việt Nam, có chất thẩm mỹ riêng và yếu tố nghi lễ. Vì vậy, sắp xếp vị trí uống trà, điều kiện uống trà là yêu cầu rất đặc biệt. Phạm Đình Hổ viết tiếp: “Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chè ở cửa chợ bụi lầm trong lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm có đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế thì có thú vị không?”.

Như vậy, truyền thống uống trà Việt Nam còn phải tính đến sự hòa hợp với tâm trạng, trạng thái tinh thần ổn định. Ngoài việc uống trà, còn là sự giao tiếp, sự hòa hợp với thiên nhiên. Trong quán ăn giữa chợ, bay lên mùi thơm dễ chịu từ những bát phở gà nóng hổi với sợi phở dài trong suốt được rắc nhiều hạt tiêu với những cọng rau thơm và những cọng hành dài. Người ta gọi đó là quán ăn “bụi”. Nhưng để uống trà, lại cần phải tách biệt, tốt hơn hết là giữa thiên nhiên, tránh xa những mối bận bịu, ồn ào. Phạm Đình Hổ kể rằng: “Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh dạo chơi gần chùa Vân, pha chè uống nước, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía Tây xóm ấy, rồi múc nước suối để pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng kêu lượn, cùng lá cỏ cây rơi rụng, hành khách lại qua, ta thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh”.

CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

Trà – Biểu tượng văn hóa phương Đông

Lịch sử giao lưu giữa văn hóa châu Âu với văn hóa của các dân tộc vùng Viễn Đông chứng tỏ rằng, ở châu Âu những thế kỷ trước không những đã nắm vững rất sớm cách trồng trọt những loại cây ăn quả mới, chưa từng thấy, đem về từ phương Đông và Đông Nam Á mà còn tậu được những mặt hàng tơ lụa tuyệt hảo và những loại vải vóc đặc biệt khác, đồ sành sứ, đồ trang sức Trung Quốc, quạt bình hoa, những tấm bình phong trang trí. Và dĩ nhiên có cả chè. Nhà truyền giáo nổi tiếng Alexandre de Rhodes (1591 – 1660) đã viết về nguồn gốc phổ biến thói quen uống trà ở các nước châu Âu và than phiền rằng món lợi nhuận khổng lồ của việc buôn bán các món hàng cực kỳ có lãi này chỉ đem lại béo bở cho các thương gia Hà Lan láu cá, trong khi đó các nhà buôn Pháp lại bỏ lỡ cơ hội phát tài ấy.

ádas

Một người uyên bác về văn hóa truyền thống Việt Nam, nhà văn Nguyễn Tuân, vào đầu những năm 70, trong lúc chiến tranh ác liệt đã viết rằng, một chén trà tuyệt hảo, một cành hoa đào đủ để thấy hương vị Tết Việt Nam. Nhưng trà còn đi xa hơn, vượt qua biên giới Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên.

“Trà – biểu tượng của văn hóa Viễn Đông, được đem sang trồng ở phương Tây” – Turekhiro Saraki, nhà phê bình văn học Nhật Bản đương đại nhận xét Trà, là sự gặp gỡ giữa Viễn Đông với phương Tây. Trà không chỉ đơn thuần với tư cách là một trong những nhân tố văn hóa độc đáo của cả khu vực, mà còn là biểu tượng. Để sáng tỏ nhận định này, có thể đưa ra nhiều dẫn chứng hùng hồn. Vì thế, dĩ nhiên trong cuốn sách của Philíp Bỉnh, không chỉ nói về sự du nhập từ Trung Quốc vào phương Tây như cam, mà còn cả cây chè và cách uống trà nữa.

Philíp Bỉnh, nhà khai sáng, người có óc thông minh, đã ước mong rằng Tổ quốc Việt Nam của ông sẽ noi theo nền sản xuất hữu hiệu, những thành quả văn hóa, những thói quen tập quán của văn hóa châu Âu (ông thường gọi là phương Tây). Ông nói về máy in và cối xay gió, về bưu điện và báo chí, về công xưởng và ngói Bồ Đào Nha tuyệt hảo và về nhiều vấn đề khác.

Nhưng có một tập quán châu Âu mà ông không thể nào chấp nhận và tiếp thu, không thể hòa hợp được với nó. Tập quán ấy, theo quan điểm của ông, không thể coi là chuyện nhỏ nhặt được. Ông nói về thói quen tầm thường này – theo cách của người châu Âu.

CategoriesTrà & Kiến thức về Trà

Bàn về mối thâm duyên giữa Trà và thiền Phật P1

Từ những tương đồng đến mối thâm duyên giữa Trà và thiền Phật.

Không xác định được thật rõ từ khi nào, Văn hoá trà và Thiền phật đã kết duyên với nhau. Và từ xưa đến này cũng không mấy ai nhìn Văn hoá phương đông, Văn hoá Việt Nam, Văn hoá Trung Quốc, Văn hoá Nhật bản và Thiền phật Ấn Độ, Trung Quốc, Trà đạo Nhật Bản từ mối quan hệ Văn hoá đầy thú vị này. Bài viết nhỏ này bước đầu nhìn trên tổng thể vài nét về mối tương đồng tự nhiên giữa Trà và thiền phật đồng thời đi sâu vào vài điểm đặt trà trong quỹ đạo của thiền phật để nhìn nhận tìm hiểu, đặng nhìn thấy một thứ trà khác với trà thế tục của văn nhân, văn sĩ và đời sống thế tục, đồng thời cũng thấy được mối giao thoa giữa văn hoá thế tục và văn hoá phật giáo.

Nhìn khái quát, một điều hết sức thú vị là, nếu như Phật giáo là một tôn giáo, triết học có lịch sử lâu đời nhất trên thứ giới, có sức sống mãnh liệt nhất trên thế giới hiện nay, có sức lan toả và kết tinh thuộc loại mạnh nhất trên thế giới hiện nay và có sức hút, sức cảm hoá và sức quy tụ vĩ đại nhất hiện nay thì Trà là đi từ một loại dược liệu [1], từ một loại đồ uống trở thành một thứ văn hoá nổi tiếng thời Đường, Tống và Việt Nam đầu thời kỳ độc lập [2]. Cũng như Thiền Phật trà có lịch sử ra đời từ nhiều nghìn năm trước, có sức sống lâu bền nhất, có sức lan toả và có sức cảm hoá người thưởng thức mãnh liệt nhất và ngày nay cũng như Thiền phật trở thành một thứ thức uống cao cấp trên toàn thế giới.

zen-tea

Phật giáo sinh ra trên đất ấn Độ, sau đó lan toả ra toàn khu vực Đông Nam châu Á, Trung Quốc, Nhật Bản….Điều đáng nói nhất là khi Phật giáo giao thoa với văn hoá Trung Hoa, cụ thể là triết học Lão Trang, tạo ra một thứ đặc phẩm phật giáo là: Thiền học. Thiền học là một dược tâm ngày nay trên thế giới, có tác dụng an tĩnh tinh thần, giải bỏ căng thẳng, tu luyện đắc đạo đưa người ta trở về với thế giới tinh thần thanh tĩnh, hoà đồng vào giới tự nhiên. Trà có nguồn gốc cũng từ nhiều nghìn năm trước ở Trung Hoa, ở miền Bắc Việt Nam. Ở Trung Hoa có nhiều loại trà: ô Long Trà, Thiết Quan âm trà, Trà Long Tỉnh, trong đó nổi tiếng nhất là trà Long Tỉnh ở Triết Giang, Tô Châu, Hàng Châu Trung Quốc. Ở Việt Nam nổi tiếng nhất là Trà Thái Nguyên. Khi Trà vượt qua các đồ uống khác, trở thành một thứ văn hoá cao cấp, mang tính thướng thức cao nó đi vào rất sâu trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống và nghệ thuật. Điều đáng nói nhất ở đây là khi Trà đi vào đời sống của văn nhân sĩ phu, nó trở thành đề tài, một đối tượng thẩm mỹ trong thơ văn của nhà thơ Trung Quốc và Việt Nam. Trà trở thành một thứ nghệ thuật nó thúc đẩy gốm sứ Trung Quốc phát triển, cung cấp cho gốm sứ Trung Quốc những sự sáng tạo và tìm tòi hết sức độc đáo, đặc biệt gốm sứ đời Tống để lại nhiều sản phẩm độc đáo liên quan đến Trà. Cũng vì đến phục vụ và nhằm đạt đến thưởng trà hoàn hảo, người Trung Quốc đã tìm ra những loại hình thù ấm đất và đặc biệt những loại đất đặc biệt để pha trà. Xin kể một ví dụ về bộ ấm có mỹ danh là “Tử sa ấm”. Ấm tử sa có nghĩa là ấm đất đỏ. Tử sa là một loại đất có màu đỏ đậm. Vì vậy bộ ấm này có tên là Tử sa ấm. Điểm độc đáo nhất của bộ ấm này chính là đặc điểm hoá học của đất tử sa. Đất tử sa nhìn từ kết cấu là kiểu đất kết cấu cấu trúc như đất đá ong Việt Nam. Mắt thường nhìn không thấy được kết cấu này. Các nhà khoa học Trung Quốc sau một thời gian dài nghiên cứu đã đi đến kết luận về bí quyết của sự quý hiếm đất tử sa. Trước khi tìm hiểu kỹ bí quyết của ấm tử sa cần nói rõ hơn vì sao ấm Tử sa lại quý đến vậy. Từ xưa những văn nhân Trung Quốc đều khẳng định Tử sa ấm là một loại ấm rất quý. Sở hữu ấm tử sa là một vật báu trong nhà. Khi pha trà bằng ấm Tử sa, vừa giữ được độ ấm, độ nóng lâu hơn ấm khác, khi pha trà vừa thơm hơn những ấm khác, sắc màu ấm chầm đỏ phù hợp với đặc tính của trà. Trước đây các văn nhân Trung Quốc họ không hiểu được tại sao ấm tử sa lại có tác dụng thần diệu như vậy, sau này các nhà khoa học Trung Quốc đã phát hiện ra bí quyết của nó. Khi dùng kính hiển vi, họ nhìn rõ hơn những lớp kết cấu khác nhau của đất tử sa, chúng kết cấu theo kiểu đã ong Hà Tây, do có nhiều lượng sắt trong đấy nên nó tạo ra nhiều lỗ nhỏ li ti trong đất. Do vậy, khi dùng nước nóng pha trà nước nóng ngấm sâu vào thành ấm nhưng do có các lõ nhỏ giữ khí, giữ nước, giữ ấm nên nó bảo quản độ nóng tốt hơn ấm khác, không có cùng kết cấu. Mặt khác, khi pha trà. Hương thơm trà ngấm dần vào trong thành ấm (ấm khác không có kết cấu này không có được). Những lỗ nhỏ li ti kết cấu theo kiểu đá ong lưu giữ nhiều lại, nhiều lần như vậy tích tụ lại thành những vỉa, những lớp hương trà khác nhau, khi có độ nóng cần thiết nó lại toả hương. Do vậy, mỗi lần pha trà, hương trà cũ lại quyện cùng hương trà mới, vô cùng đặc sắc, đồng thời lại lưu giữ lại hương thơm. Vì vậy, đổ nước sôi vào ấm khổng chỉ thấy được vị hương trà bốc lên mà toả ra trong nước còn khá đậm, uống có mùi hương và vị trà tương đối đậm. Vì đặc tính này, Tử sa ấm trở thành ấm nổi tiếng. Sau này khi nội chiến Trung Quốc, Trịnh Thành Công chạy ra đảo Đài Loan, nhiều văn nhân và nhà giàu có đã mang nhiều ấm Tử Sa đến Đài Loan. Đặc biệt là khi Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan đã thu vét toàn bộ vật quý bảo ở Bảo Tàng cố cung mang ra Đài Loan. Ngoài ra nhiều người nước ngoài cũng lấy mang đi phân tán toàn thế giới. Do vậy, ngay nay Tử Sa ấm ở Đài Loan còn rất nhiều, thậm chí những bộ quý hiếm nhất không còn ở đại lục mà ở chính Đài Loan.

Từ khi Phật giáo vào Trung Quốc, kết hợp với triết học Lão Trang, Trà cùng tường bước bén duyên cùng nhà chùa. Từ thức uống ngoài thế tục, Trà trở thành một thức uống mang nhiều sắc màu của nhà chùa. Từ đây Trà vừa là một thức uống vừa là một nghi thức trong phật giáo vừa trở thành một ý vị, một cách giới trong phật giáo.

Nguồn: sưu tầm